Ông lão bảo dễ thôi, rồi từ cái túi vải rách sau lưng lấy ra một tấm gương, nói: “Treo cái này trước cửa chính, chỉ cần soi là biết ngay là thứ gì. Dù là yêu ma quỷ quái gì, cũng không dám bước vào, đảm bảo nhà chị bình an.”
Bà tôi nhận lấy gương, cảm ơn một tiếng, rồi kéo tôi về nhà.
Về đến nơi, bà lập tức treo gương lên cửa chính.
Trời vừa sẩm tối, ngoài cửa đã vang lên tiếng gõ.
Bà tôi dừng công việc đang làm, lớn tiếng hỏi: “Ai đó?”
Một giọng đàn ông khàn khàn vang lên: “Bà già chết tiệt, mau mở cửa!”
Là giọng của ông nội tôi. Bà tôi đứng dậy, bước đến cửa, tay vừa chạm vào then cửa thì chần chừ hỏi: “Là ông thật không, Lão Nhị?”
Ông nội tôi có một anh trai, nên trong nhà mọi người vẫn gọi ông là Lão Nhị, dân làng cũng quen gọi vậy.
“Điên gì vậy, còn không mở cửa, nóng chết mất!” Lần này là giọng của chú út tôi.
Tôi kéo tay bà, vội nói: “Bà, đừng mở cửa vội, gọi điện cho chú út trước đã!”
Bà nghe lời, đưa tôi cái điện thoại cũ kỹ. Tôi bấm số chú út, và tiếng chuông quen thuộc liền vang lên ngay… ngoài cửa.
Lúc đó bà tôi mới yên tâm, mở cửa cho họ vào.
Chú út vừa bước vào đã mắng chúng tôi một trận té tát. Ông nội thì nhìn quanh, rồi chỉ vào tấm gương trước cửa mà quát: “Treo cái gương làm gì? Đồ âm khí nặng nề, mời quỷ vào nhà, biết không hả?”
Anh cả của ông nội là người có chút đạo thuật, cả đời không lấy vợ, chuyên tâm nghiên cứu mấy chuyện huyền môn. Mấy năm nay, ông nội cũng học lỏm được đôi chút nên tự cho mình là biết nhiều.
Bà tôi bèn kể lại đầu đuôi câu chuyện gặp ông lão trên đường.
Nghe xong, chú út cười nhạo: “Thời buổi này, lão già nào cũng dám ra ngoài lừa đảo. Đòi nợ? Nợ cái gì? Ai dám đến đòi nợ?”
Rồi hỏi gằn: “Lão già đó, bà có đưa tiền cho ông ta không?”
Bà tôi như đứa trẻ bị mắng oan, lắc đầu nguầy nguậy.
Chú út hừ lạnh, bước tới tháo gương xuống, đập tan tành.
Ông nội mắng bà là “tóc dài óc ngắn, mắt mù.” Từ khi tôi có ký ức, ông nội và chú út đã luôn đối xử tệ với bà.
Trong làng, tư tưởng trọng nam khinh nữ rất phổ biến, đàn ông đánh phụ nữ cũng thành chuyện thường ngày.
Một lát sau, chú út xách chai rượu trắng, rủ ông nội uống vài ly, rồi sai bà tôi vào bếp nấu vài món nhắm.
Đến khi cơm dọn ra, hai người đã ngà ngà say.
“Làm có bữa cơm mà chậm chạp!”
Chú út vừa dứt lời, ngoài cửa bỗng vang lên tiếng gõ: cốc, cốc, cốc…
Ba tiếng, rồi im một lát, lại cốc, cốc, cốc.
Người bên ngoài chỉ gõ cửa, không lên tiếng.
Nghe tiếng gõ ấy, ông nội như tỉnh cả rượu.
Bà tôi nắm chặt tay tôi, khẽ thì thào: “Thật kỳ lạ… giờ này sao lại có người đến?”
Trong làng, hàng xóm láng giềng chỉ ghé thăm ban ngày, chưa từng có ai gõ cửa vào lúc đêm xuống như thế.
Có việc gì, một cuộc điện thoại là xong. Giờ này, lẽ ra không ai đến, trừ phi… người ngoài cửa không phải là người.
Chú út mặt đỏ gay, quát lớn: “Thằng khốn nào thế?”
Bên ngoài vọng vào giọng nói mềm mại, non trẻ của một cô gái: “Tôi… tôi từ thành phố đến, muốn xin ngủ nhờ nhà một đêm.”
Bà tôi liếc chú út, rồi hỏi: “Cô gái thành phố, đến làng chúng tôi làm gì?”
Người ngoài cửa nức nở: “Tôi bị người ta lừa đến đây, hắn cướp tiền của tôi, bỏ tôi lại một mình ở chỗ này…”
Giọng cô ta run run, nghe thật đáng thương. Chú út nheo mắt, cười với ông nội: “Nghe tội nghiệp thật, cho cô ấy ở lại một đêm đi.”
Ông nội rít điếu thuốc lào, chẳng nói gì. Bà tôi cau mày, lắc đầu: “Không được.”
Bà nói, trai trẻ trong làng phần lớn đi làm xa, mấy người còn ở lại đều không biết chữ, làm sao lừa được một cô gái thành phố đến đây?
Chú út vừa nghe xong, mặt sầm lại: “Bà biết cái gì? Đây gọi là yêu qua mạng! Người thành phố ai cũng biết, có cái điện thoại là lừa được rồi.”
Người ngoài cửa lập tức phụ họa: “Đúng đúng, tôi bị lừa qua yêu qua mạng đến đây.”
Chú út mắng bà tôi vài câu, rồi đi ra cổng, kéo then cửa mở. Dưới ánh trăng lờ mờ, tôi thấy một người phụ nữ mặc váy trắng đứng ngoài cửa, váy rất dài, che kín cả bàn chân.
Chú út tươi cười, mời cô ta vào nhà. Ông nội im lặng hồi lâu, rồi đột nhiên hỏi: “Cô là người ở đâu trong thành phố?”
Hồi trẻ, ông từng làm thợ ở huyện, biết khá rõ các địa danh. Cô gái vừa khóc vừa nói mình ở Thạch Gia Loan. Ông gật đầu, hỏi thêm vài câu, cô ta đều trả lời trơn tru.
Chú út quay lại, bực bội nói: “Sao, hai người tin lời lão già đó thật à?”
Ông nội và bà tôi nhìn nhau, không đáp.
Ngay lúc cô gái định bước qua ngưỡng cửa, con chó đen lớn trong sân đột nhiên xông tới sủa liên hồi.
Chú út đá nó bay ra xa. Con chó này rất biết nhìn người, bình thường không bao giờ sủa bậy.
Chú út véo tai tôi, bảo tôi trông chừng con chó cho đàng hoàng. Tôi vừa buộc nó xong thì cô gái đã bước vào sân.
Gió đêm nổi lên, cuốn tà váy cô ta tung bay.
Tôi đi sau, thoáng thấy chân cô ta… không chạm đất.
Toàn thân tôi lạnh buốt. Đường làng mấy hôm nay vừa mưa, toàn bùn đất, thế mà váy cô ta trắng tinh, chẳng dính chút bẩn nào.
Tôi rút trong túi ra mảnh gương vỡ mà chú út từng đập, soi thử.
Trong gương, cô gái ấy biến dạng, cơ thể khô quắt, như xác chết chôn lâu dưới đất.
Tôi nuốt nước bọt, kinh hãi khi thấy cô gái trong gương từ từ quay đầu, vén tóc, đôi mắt đen ngòm nhìn thẳng vào tôi, miệng nhe ra một nụ cười rợn người.
Trong khi đó, chú út và ông nội vẫn trò chuyện bình thường, không ai nhận ra thứ trước mặt họ không phải người.
Cô ta vừa vào nhà, bà tôi lập tức kéo tôi vào bếp, run run hỏi: “Con… con có thấy gì không?”
Tôi lí nhí đáp: “Cô ta không phải người, là ma quỷ, miệng còn nhe răng ra cười!”
Bà cũng thấy kỳ lạ, con chó đen kia tuy biết nhìn người, nhưng chưa bao giờ sủa dữ như thế. Ông cả từng nói, chó có thể thấy những thứ con người không thấy.
Bà gọi ông nội vào, thấp giọng bảo: “Cô gái đó… e là không phải người.”
Bà hối hận vì đã để chú út đập vỡ tấm gương cứu mạng.
Ông nội gật đầu, có lẽ cũng cảm thấy bà nói có lý. “Tôi đi nhà Trương Lão Tam lấy ít nước mắt bò đây.”
Nước mắt bò bôi lên mắt có thể nhìn thấy ma quỷ. Nói xong, ông vội vã ra ngoài.
Chú út càu nhàu bước vào, hỏi sao cơm chưa dọn. Bà tôi rụt rè như chim cút, nói đã xong, bảo tôi mang qua.
Bà dúi vào tay tôi hai bát: một bát cơm chín, một bát gạo sống, trong bát gạo sống còn nhét mấy tờ tiền âm phủ.
Tôi ngơ ngác: “Bà… làm gì vậy?”
“Tiểu Hoa, đừng hỏi, cứ mang qua, nhìn cô ta ăn.”
Tôi sợ lắm, lắc đầu: “Con không đi, trông ghê lắm.”
Bà nhẹ giọng dỗ: “Không sao đâu, con đeo ngọc bội, cô ta không dám động vào đâu.”
Chiếc ngọc bội đó mẹ tôi xin từ chùa, được đại sư khai quang, nói có thể bảo bình an, tà ma bình thường không dám đến gần.
Tôi hít sâu, nghĩ thầm: Nếu ngày trước bố mẹ cũng đeo ngọc bội, xin vài lá bùa, liệu có tránh được cái chết không…
Cô gái được sắp xếp ngủ ở phòng phía tây, phòng của chú út.
Trước khi vào, tôi ghé mắt qua khe cửa sổ, thấy cô ta ngồi trên giường, quay lưng ra cửa, chải mái tóc đen nhánh.
Tôi bưng cơm vào, đặt cẩn thận lên bàn. Cô ta quay đầu lại, đôi mắt trừng trừng, miệng há to hỏi tôi tên gì. Một luồng mùi hôi tanh xộc thẳng vào mặt.
Tôi đứng xa, đáp nhỏ: “Cháu… cháu là Lý Tiểu Hoa.”
Cô ta khúc khích cười, bảo: “Tôi tên Chu Viện.”
Trên bàn có hai bát cơm. Cô ta cầm bát gạo sống cắm tiền âm phủ, không ăn, nhưng miệng lại phát ra tiếng nhai răng rắc.
Cô ta cúi xuống ngửi, rồi ngẩng lên cười quái dị: “Tôi là người, sao lại đưa tôi bát gạo sống?”
Nói xong, cô ta bưng bát cơm chín, đổ thẳng vào miệng, nhai ngấu nghiến.
Răng rắc… răng rắc… hạt cơm văng tung tóe, mắt cô ta vẫn nhìn chằm chằm tôi, rồi vẫy tay gọi tôi lại gần.
Tôi lắc đầu lia lịa, run rẩy móc ra tờ một trăm tệ, đặt lên bàn: “Bà tôi bảo… cô ăn xong thì đi ngay. Đi về phía đông, đừng đi ban ngày, đêm đến thì đi. Ở thị trấn có xe, cô có thể vào thành phố.”
Trong làng tôi, nhiều phụ nữ là bị mua về. Chú út đã ngoài ba mươi mà chưa vợ, dạo gần đây kiểm tra gắt gao, “hàng” ít, giá lại cao.