“Ông tin hay không, chỉ cần lần theo vệt cháy này, tôi sẽ tìm được ông.”
Tôi nhìn thấy một sợi dây trong suốt, mảnh như tơ, sáng lấp lánh.
Nó sợ lửa và đúng là dễ cháy.
“Cô biết tôi là người rồi, phải không?” Giọng kia hỏi, dần yếu đi, lộ rõ vẻ thất bại.
Tôi đáp: “Thế gian này vốn chẳng có quỷ. Quỷ quái chính là lòng người.”
“Cô đếm đến ba, tôi sẽ tự ra đầu thú thế nào?” Hắn nói.
Tôi lạnh giọng: “Ông trốn không được đâu. Tôi biết ông là ai.”
Trong bóng tối, âm thanh kia trầm xuống, rồi đáp: “Đừng hòng dọa tôi, Chu Thế Kỷ.”
Tôi gọi thẳng tên hắn.
Thật ra, tôi chưa bao giờ nghĩ hung thủ lại là Chu Thế Kỷ.
Ngay từ lần đầu gặp, ông ta chỉ cho tôi cảm giác của một lão già hiền lành, thật thà.
Tôi vẫn luôn nghi ngờ là lão bảo vệ Cát, tính khí nóng nảy, dễ kích động.
Nếu không tình cờ thấy Chu Thế Kỷ điều khiển rối gỗ, nếu không nghe ông ta khoe rằng có thể khống chế cả rối thật lẫn người, tôi sẽ chẳng bao giờ liên hệ ông ta với cây sào trúc kia, cũng chẳng nghĩ ông ta đã giết Vương Tinh Dã.
Không khí im ắng đến nghẹt thở. Rồi một tiếng hét lớn vang lên: “Không phải! Tôi không phải!”
Sau đó, chỉ còn tiếng rên khẽ, rồi im bặt.
Tôi thở dài.
Chu Thế Kỷ bị bắt.
Trong suốt một tuần bị giam, ông ta chống đối thẩm vấn, thậm chí tuyệt thực.
Cuối cùng, ông ta chỉ yêu cầu một điều, được gặp tôi trước khi nhận tội.
Tôi đồng ý, vì trong lòng vẫn còn vô số nghi ngờ: Tại sao Chu Thế Kỷ lại giết Vương Tinh Dã?
Vì sao hễ có ai hát bài “Thừa Nguyện Quy Lai” là ông ta lại ra tay?
Khi tôi gặp lại ông ta tại trại giam, chỉ một tuần mà ông ta đã già đi cả chục tuổi, trông chẳng khác nào lão già tám mươi, tàn tạ và trống rỗng.
Thấy tôi, ông ta trừng mắt kinh ngạc, giọng run rẩy: “Thì ra… cô là cảnh sát.”
Tôi cúi đầu nhìn bộ cảnh phục trên người, màu sắc nghiêm trang khiến tôi chợt thấy nặng nề.
“Bác Chu, tôi đến nhà hát làm diễn viên độc tấu là để điều tra vụ bài hát cấm ở Giang Thành.”
Chu Thế Kỷ hừ lạnh: “Vậy ra… cô cố ý hát Thừa Nguyện Quy Lai để dụ tôi ra mặt.”
Tôi đến gặp ông, hy vọng ông có thể thẳng thắn khai nhận tội lỗi của mình, rốt cuộc ông đã giết hại Vương Tinh Dã và Nghiêm Châu như thế nào?
Chỉ cần nghe đến cái tên “Vương Tinh Dã”, tim tôi không khỏi quặn đau.
Một ca sĩ trẻ tài hoa như thế, bị người ta tước đoạt mạng sống, không thể không nói, đó là một bi kịch quá đỗi đáng tiếc.
“Tôi có thể hút thuốc chứ?” Chu Thế Kỷ uể oải hỏi, cúi đầu.
Tôi rút trong túi ra điếu thuốc đã chuẩn bị sẵn, châm lửa giúp ông ta.
Ông chỉ hút hai hơi rồi dập tắt.
Ông nói: “Hôm diễn mừng Quốc khánh năm ấy, trước khi Vương Tinh Dã lên sân khấu mười phút, tôi đánh ngất hắn. Tôi buộc hàng chục sợi dây điều khiển con rối lên người hắn, rồi lợi dụng lúc kéo màn sân khấu, trèo lên dầm ngang phía trên. Sau khi tấm màn được kéo ra, tôi bắt đầu điều khiển dây, khiến Vương Tinh Dã cúi mình chào khán giả. Khán giả ngồi xa, đèn sân khấu lại mờ, nên chẳng ai phát hiện có gì bất thường, cũng không ai nhận ra tôi đang ở ngay trên dầm đỡ. Tất nhiên họ càng không thể biết, tiếng hát lúc ấy chỉ là băng thu âm.”
“Khi bài hát kết thúc, tôi bắt chước giọng của Vương Tinh Dã, nói rằng ‘bài hát này chỉ nên trở thành tuyệt hưởng, nếu không người hát nó sẽ phải rơi đầu.’ Nói xong, tôi dùng dây điều khiển cắt đứt cổ hắn. Lợi dụng lúc hỗn loạn, tôi thu dây lại, giấu cơ quan trong đạo cụ đi. Dù sao tôi là người phụ trách đạo cụ, ai mà nghi ngờ được? Bất cứ việc gì tôi làm, người khác cũng cho là bình thường.”
Tôi cắn chặt môi, cố nén cơn giận đang cuộn lên trong ngực: “Vậy vì sao ông lại giết ông ấy? Tại sao không cho phép ai hát bài hát đó? Là vì ông căm hận Vương Tinh Dã, hay là căm ghét chính bài hát?”
Sau khi Chu Thế Kỷ bị bắt, tôi đã từng suy đoán, có lẽ vì ghen tị. Hai người cùng vào nhà hát một năm, tài năng và danh tiếng chênh lệch khiến lòng người dễ nảy sinh đố kỵ.
Chu Thế Kỷ lại lấy ra một điếu thuốc khác, tôi châm giúp ông ta. Ông hút vài hơi rồi lại dập tắt.
Ông nói: “Bởi vì kiếp trước, chính tôi đã giết hắn.”
Khi thốt ra câu đó, trên mặt ông ta ánh lên vẻ đắc ý kỳ lạ, không chút hối hận.
“Kiếp trước?” Tôi khẽ nhíu mày.
“Phải.”
Ông ta nói: “Phải bắt đầu từ năm tôi tám tuổi. Khi ấy là thập niên 70, mọi người đều nghèo đến mức đói khát. Nhà tôi là nghèo nhất thôn, thường có bữa không cơm, bữa không cháo. Hôm đó, tôi đã đói suốt hai ngày liền, chỉ có thể lên núi hái trái dại. Nhưng trái nào cũng mọc giòi, đắng nghét đến mức tôi nôn mật xanh. Lúc ấy, có một thanh niên đến, nói rằng hắn là người làm âm nhạc, tới vùng này để thu thập dân ca. Hắn bảo chỉ cần tôi dẫn hắn đến tìm những người biết hát, hắn sẽ cho tôi kẹo.”
“Tôi nhìn ba lô to hắn mang theo, nghĩ bên trong chắc có rất nhiều đồ ăn. Nếu mang được về nhà, cả nhà tôi sẽ có một bữa no. Tôi bèn cố ý dẫn hắn đến mép vách đá, rồi nhân lúc hắn không chú ý, đẩy hắn rơi xuống vực. Ai ngờ chiếc ba lô cũng rơi theo hắn.”
Tôi cau mày: “Ý ông là… người bị ông đẩy xuống vách đá chính là kiếp trước của Vương Tinh Dã?”
Ông ta gật đầu: “Vương Tinh Dã và hắn giống nhau đến kỳ lạ, đều làm âm nhạc. Ban đầu tôi chỉ nghi ngờ, nhưng rồi tôi chắc chắn, bởi vì bài hát ‘Thừa Nguyện Quy Lai’ đã nói rõ điều đó. Khi Vương Tinh Dã hát bài đó cho tôi nghe, tôi hiểu ngay, hắn đang nói cho tôi biết hắn đã đầu thai, trở về để báo thù tôi.”
Tôi lặng người. Cái “logic” ấy thật bệnh hoạn. Rõ ràng chỉ là tâm ma của Chu Thế Kỷ, xuất phát từ tội lỗi và nỗi sợ.
“Tức là ông cho rằng tất cả những người hát bài đó đều là kiếp sau của ông ấy, nên ông phải giết hết?” Tôi hỏi.
“Hừ, chẳng lẽ không phải sao?” Chu Thế Kỷ đáp, giọng hung tợn.
“Ai hát bài đó, tôi giết người đó. Hắn có đầu thai bao nhiêu lần, tôi cũng sẽ giết bấy nhiêu. Tôi sinh ra là khắc tinh của hắn!”
Mắt ông ta ánh lên tia điên loạn, gân xanh nổi cộm trên trán.
Tôi nhìn khuôn mặt không chút hối hận ấy mà chỉ thấy thương tiếc cho Vương Tinh Dã. Nếu không có Chu Thế Kỷ, ông ấy giờ có lẽ đã trở thành một nhạc sĩ nổi tiếng toàn quốc, thậm chí vươn ra thế giới.
“Bác Chu.” Tôi nói, “có một chuyện tôi phải nói cho ông biết. Ông đã sai. Bài hát ‘Thừa Nguyện Quy Lai’ không hề nói về chuyện đầu thai báo thù.”
“Đừng lừa tôi! Lời hát nói rõ về người con hứa sẽ trở lại với mẹ, chẳng phải là nói đến đầu thai sao?” Chu Thế Kỷ gào lên, mặt đỏ bừng như máu.
“Không phải vậy.”
Tôi bình tĩnh đáp: “Bài hát được viết để tưởng niệm những anh hùng liệt sĩ đã hy sinh vì Tổ quốc. Vương Tinh Dã hy vọng họ có thể một lần nữa trở lại nhân gian, sống lại trong lòng người. Trong lời hát, ‘mẹ’ không phải là mẹ ruột mà là ‘mẫu quốc’, là đất nước chúng ta. Bề ngoài là tình cảm của người con dành cho mẹ, nhưng thực chất là tình yêu của người chiến sĩ dành cho Tổ quốc.”
Chu Thế Kỷ khẽ run, giọng trầm xuống: “Thật sao…”
Rồi ông ta lắc đầu, sắc mặt tái nhợt như tờ giấy.
Tôi rút từ túi ra một tấm ảnh đưa cho ông ta. Đó là bức ảnh Vương Tinh Dã từng nhắc đến: trong ảnh, một người lính trong bộ quân phục rách nát ngã gục giữa cánh đồng, nửa thân dưới bị bom xé nát, chỉ còn phần trên. Giữa đống xương khô, mọc lên từng nhánh cỏ xanh, còn trong hốc mắt khô, một bông hoa dại lay động trong gió, như niềm hy vọng nhỏ nhoi vẫn còn sót lại.
Chu Thế Kỷ lặng im hồi lâu, không nói gì. Tôi tháo chiếc vòng tay Song Ngư khỏi cổ tay, đặt lên bàn: “Bác Chu, cảm ơn vì đã vô tình lưu lại giọng hát của Vương Tinh Dã. Chiếc vòng này tôi tặng lại cho bác.”
Sau này người ta mới biết: để khiến mọi người tin rằng bài “Thừa Nguyện Quy Lai” bị quỷ ám, Chu Thế Kỷ đã giấu trong chiếc vòng tay ấy một thiết bị phát âm siêu nhỏ. Mỗi khi có ai hát bài đó, thiết bị lập tức phát lại giọng của Vương Tinh Dã, khiến người ta tin rằng linh hồn ông ấy vẫn còn quanh quẩn.
“Bác Chu.”
Tôi khẽ nói: “Bác nợ Vương Tinh Dã một lời xin lỗi.”
Năm nay, vào dịp Quốc khánh, tôi đến Vân Nam, ghé thăm nghĩa trang liệt sĩ. Tôi rưới rượu tẩy bia mộ, thắp hương nghi ngút trước từng ngôi mộ lạnh. Những người trẻ tuổi ấy, cuộc đời họ khép lại ở khoảnh khắc rực rỡ nhất. Họ mang theo vô vàn tiếc nuối, nhưng chắc chắn, họ chưa từng hối hận.
Nếu được sống lại một lần nữa, họ vẫn sẽ chọn con đường y như thế.
“Từng có một người, ông tên Vương Tinh Dã. Ông muốn vì các vị mà hát một khúc tiễn biệt. Khúc hát ấy mang tên ‘Thừa Nguyện Quy Lai’, nghĩa là hoàn thành tâm nguyện rồi trở về. Nó không chỉ là lời chúc phúc của Vương Tinh Dã dành cho các vị, mà còn là lời chúc phúc của Tổ quốc và nhân dân cả nước gửi đến các vị. Nhưng ông ấy không thể hát được nữa, bởi bốn mươi năm trước, ông đã bị người ta sát hại. Vì vậy, hôm nay tôi thay mặt Vương Tinh Dã, hát khúc “Thừa Nguyện Quy Lai” ấy cho các vị nghe.”
Tôi đứng nghiêm trang, hít một hơi thật sâu, rồi từ từ thở ra.
Lúc này, dưới chân núi xuất hiện một nhóm học sinh tiểu học, đều mang khăn quàng đỏ trên cổ. Các em được thầy cô dẫn dắt, xếp hàng ngay ngắn, từng em một cúi đầu hành lễ trước mỗi tấm bia mộ.
Tôi khẽ mỉm cười.
Những đứa trẻ này, tương lai sẽ là trụ cột của đất nước. Các em sẽ yêu thương sâu sắc quê hương này.
Vương Tinh Dã, ông xem đi…
Họ đã trở về rồi đó.
Lời bài hát trôi đi.
“Tôi nằm trong lòng đất ẩm ướt, xương cốt mình nảy lên từng nhánh cỏ xanh non.
Mẹ thân yêu, xin đừng khóc vì con nữa. Con trở về rồi, vẫn là đứa con trai của mẹ.
Mẹ dùng mái tóc bạc mà đo từng mùa đi qua, khâu trái tim đỏ nhiệt thành của con vào lòng đất mẹ hiền.
Dẫu mưa nguồn có xối xả, tình nhớ vẫn ngược dòng mà trôi.
Đom đóm thắp sáng nơi cát bụi vùi xương, ánh sáng ấy chính là tinh thần con còn sót lại.
Trên sống lưng tang thương, con khắc xuống điều nguyện ước cuối cùng, rằng nếu những giọt sương rơi ướt lòng bàn tay mẹ, thì hoa văn thấm đẫm trên da ấy, chính là con đang trên đường trở về.
Gió đêm luồn qua những kẽ xương, hoa dại mọc lên trong hốc mắt, đã hóa thành thi ca.
Mẹ ơi, xin đừng khóc vì con nữa. Con chưa bao giờ thật sự rời xa mẹ.
Mỗi nếp nhăn trên gương mặt mẹ đều là năm tháng trôi qua, mỗi giọt mưa rơi xuống đều mang theo nỗi nhớ con.
Khi đàn nhạn đỏ bay về từ phương xa, nơi đất mềm, mầm non lại bật dậy,
hát khẽ khúc ru hòa quyện cùng hương lan.
Xin mẹ đừng lau tro bụi trên khung ảnh, vì con vẫn quanh quẩn nơi hiên nhà.
Khi bếp lửa bừng hồng, hơi ấm ấy chính là con, đang trở về trong vòng tay mẹ.”
-HẾT-