“Tôi chỉ muốn xem qua mấy thứ đó thôi, sẽ không lấy gì cả.” Harry nói.
Viên cảnh sát trực ban bên trong quầy trực của nhà tạm giữ nhìn Harry, đầy vẻ do dự.
“Đừng thế chứ, Tore, cậu biết tôi là người thế nào mà.”
Tore Nielsen hắng giọng: “Tôi biết, nhưng cậu đã phục chức chưa, Harry?”
Harry nhún vai.
Tore nghiêng đầu, hạ thấp đôi mắt, hé mở như thể đang lọc lại những hình ảnh trước mắt, lọc bỏ những thứ không quan trọng; và bộ lọc đó rõ ràng đã cho ra kết quả có lợi cho Harry.
Tore thở dài một tiếng nặng nề, rời khỏi chỗ ngồi, lúc quay lại trên tay cầm theo một chiếc ngăn kéo. Đúng như Harry dự đoán, những vật dụng bị tịch thu trên người Oleg khi bị bắt vẫn được bảo quản tại đây. Chỉ khi xác định phạm nhân bị giam giữ dài ngày, các vật phẩm bị tạm giữ mới được chuyển đến nhà tù Botsen, nhưng đồ đạc cá nhân thì không nhất thiết phải chuyển đi.
Harry quan sát kỹ những đồ vật đó. Một ít tiền xu. Một chùm chìa khóa với hai chiếc chìa. Một cái phù hiệu hình đầu lâu và một cái của ban nhạc Slayer. Một con dao quân đội Thụy Sĩ tích hợp lưỡi dao, tua-vít và khóa lục giác. Một chiếc bật lửa dùng một lần. Và cuối cùng là một thứ nữa.
Harry vừa nhìn đã biết đó là cái gì, trong lòng cảm thấy vô cùng chấn động. Báo chí gọi thứ đó là “Drug-o-Quick” (thiết bị thử ma túy nhanh).
Đó là một ống tiêm dùng một lần, vẫn còn nằm trong bao ni lông.
“Tất cả ở đây sao?” Harry hỏi, cầm chùm chìa khóa lên, quan sát kỹ các chìa, tay hạ xuống dưới mặt quầy. Tore rõ ràng không thích Harry đưa đồ vật ra khỏi tầm mắt mình nên đã rướn người về phía trước để theo dõi.
“Không có ví sao?” Harry hỏi, “Không có thẻ ngân hàng hay giấy tờ tùy thân à?”
“Có vẻ là không.”
“Cậu có thể giúp tôi kiểm tra danh sách vật phẩm không?”
Tore lấy từ dưới đáy ngăn kéo ra một tờ biểu mẫu gấp lại, đeo kính vào và bắt đầu đối chiếu kỹ lưỡng. “Còn một chiếc điện thoại di động nữa, nhưng đã bị lấy đi rồi, chắc họ muốn biết nó có gọi điện cho nạn nhân hay không.”
“Ừm,” Harry nói, “Còn gì nữa không?”
“Còn gì được nữa?” Tore nói, lướt qua tờ biểu mẫu để xác nhận từng món, “Hết rồi.”
“Cảm ơn, không có gì nữa. Cảm ơn cậu đã giúp đỡ, Nielsen.”
Tore chậm rãi gật đầu, vẫn đeo kính: “Chìa khóa.”
“Ồ, phải rồi.” Harry đặt chùm chìa khóa lại vào ngăn kéo, thấy Tore xác nhận trên chùm vẫn còn đủ hai chiếc chìa.
Harry rời khỏi nhà tạm giữ, băng qua bãi đậu xe, bước lên đường Åkebergveien, đi đến khu Tøyen và đường Wilses gate, băng qua "Little Karachi", lướt qua những người bán rau nhỏ lẻ, những phụ nữ Hồi giáo trùm khăn kín mặt, những ông lão ngồi trên ghế nhựa ngoài quán cà phê Trung Đông, và cuối cùng dừng lại trước nhà hàng Fyrtårnet (Ngọn Hải Đăng). Đây là nhà hàng do Đội Cứu Thế mở ra để cứu trợ những người khốn khổ tại Oslo.
Harry biết vào mùa này nhà hàng Fyrtårnet khá yên tĩnh, nhưng cứ đến mùa đông khi trời trở lạnh, nơi này sẽ chật kín người. Nhà hàng cung cấp cà phê và bánh sandwich làm sẵn, cấp cho mỗi người một bộ quần áo sạch quá mùa và một đôi giày thể thao màu xanh từ kho hàng quân nhu dư thừa. Trạm xá ở tầng hai phụ trách chăm sóc những con nghiện bị thương do tranh giành ma túy, và trong trường hợp khẩn cấp còn tiêm vitamin B cho bệnh nhân. Harry suy nghĩ một lát, không biết có nên vào thăm Martine không, biết đâu cô ấy vẫn còn làm việc ở đây. Một nhà thơ từng viết rằng, sau một tình yêu khắc cốt ghi tâm sẽ là những mối tình nhỏ bé. Với Harry, Martine chính là một mối tình nhỏ bé như thế. Nhưng Harry đến đây không phải vì cô. Oslo không phải là một thành phố lớn, những người nghiện nặng nếu không tụ tập ở đây thì cũng tập trung tại quán cà phê Mission trên đường Skippergata. Martine có lẽ biết Gusto và Oleg.
Tuy nhiên, Harry quyết định làm việc theo đúng trình tự, thế là anh lại rảo bước đi tiếp, băng qua sông Akerselva, nhìn xuống từ trên cầu. Anh nhớ lúc nhỏ nước sông ở đây màu nâu, nhưng giờ nước lại trong vắt như suối núi, nghe nói giờ người ta còn câu được cá hồi ở đây. Kia rồi! Anh nhìn thấy nhiều tay môi giới thuốc trên những con đường nhỏ dọc hai bên bờ sông. Mọi thứ đều mới, nhưng mọi thứ vẫn là thói cũ.
Anh đi đến phố Hemsedalsgata, đi ngang qua nhà thờ St. James, lần theo số nhà mà tiến bước. Tấm biển của nhà hát Grusomhetens Teater. Một cánh cửa có hình vẽ graffiti khuôn mặt cười. Một căn nhà bị cháy rụi, cửa mở toang, bên trong trống không. Anh đã tìm thấy rồi. Trước mắt là một tòa chung cư rẻ tiền điển hình của Oslo, xây từ thế kỷ XIX, nhạt nhòa và đơn sơ, cao bốn tầng. Harry đưa tay đẩy cửa chính, cửa đẩy là mở, không khóa, thông thẳng đến cầu thang. Bên trong nồng nặc mùi nước tiểu và mùi rác rưởi.
Harry chú ý thấy dọc đường lên lầu đều có nhãn đánh số. Lan can đã lỏng lẻo. Nhiều cánh cửa có dấu vết ổ khóa bị phá hỏng và đã được thay bằng ổ khóa mới kiên cố hơn. Anh dừng chân ở tầng ba, biết mình đã tìm thấy hiện trường vụ án vì trên cửa dán chéo hai dải băng phong tỏa màu cam trắng.
Anh thò tay vào túi lấy ra hai chiếc chìa khóa. Đây là hai chiếc anh đã tháo từ chùm chìa khóa của Oleg lúc Tore đang mải kiểm tra danh sách vật phẩm; anh cũng không chắc lúc đó mình đã lấy đại hai chiếc chìa khóa nào của mình để thế vào, dù sao thì ở Hồng Kông đánh chìa khóa mới chẳng có gì khó khăn.
Một trong hai chiếc là chìa hãng Abus, Harry biết đó là chìa khóa ổ khóa móc vì anh từng mua một cái trước đây. Chiếc còn lại là chìa hãng Ving, anh tra chiếc chìa này vào ổ khóa cửa, nhưng mới vào được một nửa thì bị kẹt. Anh dùng lực ấn mạnh vào trong và cố gắng xoay.
“Chết tiệt.”
Anh lấy điện thoại ra. Số của cô ấy hiển thị trong danh bạ là “B”. Điện thoại anh chỉ có tám liên lạc, nên tên danh bạ chỉ cần một chữ cái là đủ.
“Tôi là Lønn đây.”
Điều Harry thích nhất ở Beate Lønn, ngoài việc cô là một trong hai chuyên gia giám định hình sự xuất sắc nhất anh từng hợp tác, và việc cô luôn tóm gọn thông tin một cách súc tích nhất, thì cô cũng giống Harry – không dùng lời lẽ dư thừa làm trầm trọng thêm vụ án.
“Chào Beate, tôi đang ở phố Hemsedalsgata.”
“Anh đang ở hiện trường vụ án? Anh đến đó làm g…”
“Tôi không vào được, cô có chìa khóa ở đó không?”
“Tôi có chìa khóa không á?”
“Chẳng phải cô phụ trách mọi sự vụ ở đây sao?”
“Tất nhiên tôi có chìa khóa, nhưng tôi không muốn đưa cho anh.”
“Dĩ nhiên rồi, nhưng hiện trường vụ án luôn có những chỗ cần phải xem xét lần hai, đúng không? Tôi nhớ có một bậc thầy giám định từng nói, việc khám nghiệm hiện trường của nhân viên giám định đối với một vụ án mạng bao nhiêu cũng là không đủ.”
“Hóa ra anh vẫn còn nhớ câu đó.”
“Đó là câu đầu tiên cô ấy nói với các học viên. Nếu cô định tiến hành khám nghiệm lần hai, tôi có thể đi cùng cô để quan sát học hỏi.”
“Harry…”
“Tôi sẽ không chạm vào bất cứ thứ gì cả.”
Một khoảng lặng. Harry biết mình đang lợi dụng cô. Beate không chỉ là đồng nghiệp, cô còn là bạn của anh, nhưng quan trọng nhất là cô đã làm mẹ.
Beate thở dài: “Cho tôi hai mươi.”
Đối với cô, ngay cả hai chữ “phút” cũng là thừa thãi.
Đối với Harry, hai chữ “cảm ơn” cũng là dư thừa, nên anh cúp máy thẳng.